Để triển khai thi hành Luật, ngày 15/11/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 149/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; ngày 15/11/2024, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 75/2024/TT-BCA quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Thông tư số 77/2024/TT-BCÁ quy định về biểu mẫu và trình tự cấp giấy phép, thông báo đăng ký khai báo, chứng nhận, chứng chỉ về vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ; thông báo xác nhận khai báo vũ khí thô sơ.
Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ban hành nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quản lý nhà nước về lĩnh vực vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan, tố chức, cá nhân trong công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ và công cụ hỗ trợ; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang và các lực lượng khác, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp. Đồng thời, thể hiện thiện chí của Việt Nam trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về phòng, chống buôn bán bất hợp pháp vũ khí, phòng, chống khủng bố, vũ khí hủy diệt hàng loạt mà Việt Nam là thành viên.
Để triển khai, thi hành Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, ngày 19 tháng 8 năm 2024, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 871/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; ngày 04 tháng 9 năm 2024, Bộ trưởng Bộ Công an có Quyết định số 4624/QĐ-BCA-C06 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ trong Công an nhân dân.
Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an; đồng thời, để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu nhằm nâng cao trình độ pháp luật trong quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, nhất là cán bộ, chiến sĩ trực tiếp làm công tác quản lý, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, UBND xã Đại Thanh phối hợp cùng Công an xã Đại Thanh tổ chức tuyên truyền về "Một số điểm mới của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành".
Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 (Luật số 42/2024/QH15) bao gồm 08 chương 75 điều, so với Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 (Luật số 14/2017/QH14) giảm 01 điều, trong đó, sửa đổi, bổ sung một số điểm mới, bao gồm:
1.1. Khái niệm vũ khí: Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những thiết bị, phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: Vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, súng săn.
Luật số 14/2017/QH14 quy định khái niệm vũ khí bao gồm05 loại: Vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự. Tuy nhiên,Luật số 42/2024/QH15 quy định khái niệm vũ khí bao gồm 04 loại: Vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, súng săn;riêng đối với các loại vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự được cụ thể hóa trong khái niệm từng loại vũ khí, việc quy định như trên đã tạo căn cứ pháp lý vững chắc, toàn diện, thuận lợi trong việc áp dụng để xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến các loại vũ khí tự chế nói chung.
1.2. Vũ khí quân dụng, bao gồm:
(1) Súng cầm tay, súng vác vai, vũ khí hạng nhẹ, vũ khí hạng nặng, đạn sử dụng cho các loại vũ khí này; các loại bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi và vũ khí khác thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của Luật này.
(2) Súng bắn đạn ghém, súng nén khí, súng nén hơi, đạn sử dụng cho các loại súng này thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
(3) Vũ khí thô sơ thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành được trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của Luật này để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
(4) Các loại vũ khí thô sơ, vũ khí thê thao, sung săn và dao có tính sát thương cao sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật.
(5) Linh kiện cơ bản của súng cầm tay, súng vác vai, vũ khí hạng nhẹ, vũ khí hạng nặng, bao gồm: Thân súng, nòng súng, bộ phận cò, bộ phận khóa nòng, kim hỏa.
(6) Linh kiện cơ bản của súng bắn đạn ghém, súng nén khi, súng nén hơi, bao gồm: Thân súng, bộ phận cò.
(7) Vũ khí khác có tính năng, tác dụng, khả năng gây sát thương tương tự như súng cầm tay, súng vác vai, vũ khí hạng nhẹ, vũ khí hạng nặng, đạn sử dụng cho các loại vũ khí này; các loại bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi và vũ khí khác trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của Luật này hoặc súng bắn đạn ghém, súng nén khi, súng nén hơi, đạn sử dụng cho các loại súng này không thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
Như vậy, so với Luật số 14/2017/QH14 thì khái niệm vũ khi quân dụng tại Luật số 42/2024/QH15 có một số điểm mới đó là:
Một là, Luật số 14/2017/QH14 quy định vũ khí quân dụng là vũ khí được chế tạo, sản xuất bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, được trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của Luật này để thi hành công vụ thì Luật số 42/2024/QH15 quy định vũ khí quân dụng theo hướng liệt kê cụ thể các loại vũ khí quân dụng gắn với mục đích trang bị, sử dụng vì nếu quy định khái niệm vũ khí quân dụng theo đặc tính kỹ thuật sẽ trùng lặp với khái niệm chung về vũ khí.
Hai là, Luật số 42/2024/QH15 quy định vũ khí quân dụng trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác để thi hành công vụ theo hướng khái quát, không liệt kê cụ thể;đồng thời, giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành danh mục nhằm bảo đảm sự linh hoạt trong quá trình điều chỉnh, bổ sung danh mục khi phát sinh những loại vũ khí quân dụng mới, không phải sửa Luật.
Ba là, bổ sung quy định các loại súng bắn đạn ghém, súng nén khí, súng nén hơi, đạn sử dụng cho các loại súng này thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành là vũ khí quân dụng. Đây là quy định mới so với Luật số 14/2017/QH14 vì xuất phát từ tình hình thực tiễn tội phạm sử dụng các loại súng bắn đạn ghém, súng nén khí, súng nén hơi gây án diễn biến rất phức tạp, các loại vũ khí này khi đối tượng sử dụng gây án gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm như vũ khí quân dụng, các loại súng này không được trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác để thi hành công vụ và nghiêm cấm chế tạo, sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng các loại vũ khí này.
Trong khi đó tại Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định xử lý hình sự đối với hành vi chế tạo, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng; Điều 306 quy địnhxử lý hình sự đối với hành vi chế tạo, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép hoặc chiêm đoạt súng săn, vũ khí thể thao, vũ khí thô sơ và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao khi đổi tượng vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích.
Do đó, khi áp dụng xử lý hình sự đôi các hành vi vi phạm liên quan đến loại súng bắn đạn ghém, súng nén khí, súng nén hơi còn chồng chéo, chưa thống nhất, khi thì áp dụng tương tự như vũ khí quân dụng, khi thì áp dụng tương tự như vũ khí thể thao, súng săn. Để khắc phục những khó khăn, bất cập trên, Luật số 42/2024/QH15 đã bồ sung các loại súng bắn đạn ghém, súng nén khí, súng nén hơi, đạn sử dụng cho các loại súng này thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành là vũ khí quân dụng.
Bốn là, bổ sung các loại vũ khí thô sơ thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành khi trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là vũ khí quân dụng. Đây là quy định mới so với Luật số 14/2017/QH14 nhằm quy định thống nhất các loại vũ khí khi trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác đề thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thì được xác định là vũ khí quân dụng.
Năm là, bổ sung quy định súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và dao có tính sát thương cao sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật là vũ khỉ quân dụng. Đây là quy định mới so với Luật số 14/2017/QH14 vì thực tê tình hình tội phạm sử dụng súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và dao có tính sát thương cao với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người diễn ra rất phức tạp, trong khi đó theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chỉ xử lý đối với hành vi chế tạo, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thể thao, vũ khí thô sơ và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao khi đối tượng vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích;
Đồng thời, tại Luật số 14/2017/QH14 không quy định dao có tính sát thương cao sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người là vũ khí. Chính vì vậy, để có căn cứ xử lý hình sự ngay các hành vi vi phạm nhằm điều chỉnh nhận thức, hành vi của các đối tượng. Luật số 42/2024/QH15 đã bổ sung súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và dao có tính sát thương cao sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật là vũ khí quân dụng.
Sáu là, bổ sung quy định linh kiện cơ bản của súng cầm tay, súng vác vai, vũ khí hạng nhẹ, vũ khí hạng nặng bao gồm: thân súng, nòng súng, bộ phận cò, bộ phận khóa nòng, kim hỏa; linh kiện cơ bản của súng bắn đạn ghém, súng nén khí, súng nén hơi bao gồm: thân súng, bộ phận cò là vũ khí quân dụng. Đây là quy định mới so với Luật số 14/2017/QH14 vì hiện nay tội phạm đang lợi dụng kẽ hở của pháp luật đã tháo rời vũ khí thành nhiều bộ phận để mua bán, vận chuyển trái phép vũ khí; bên cạnh đó, các loại vũ khí này có tính nguy hiểm rất cao, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe con người. Chính vì vậy, để có căn cứ xử lý đối với các hành vi vi phạm theo Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật số 42/2024/QH15 đã bổ sung quy định linh kiện cơ bản của súng cầm tay, súng vác vai, vũ khí hạng nhẹ, vũ khí hạng nặng, súng bắn đạn ghém, súng nén khí, súng nén hơi là vũ khí quân dụng.
Bảy là, Luật số 42/2025/QH15 đã bổ sung quy định các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng, khả năng gây sát thương tương tự như súng bắn đạn ghém, súng nén khí, súng nén hơi, đạn sử dụng cho các loại súng này là vũ khí quân dụng nhằm bao quát tất cả các loại vũ khí khác có khả năng gây sát thương cho tính mạng, sức khỏe con người, khi đối tượng sử dụng gây án để có căn cứ xử lý theo Điêu 304 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1.3. Súng săn là súng kíp, đạn sử dụng cho súng này sử dụng vào mục đích săn bắn.
So với Luật số 14/2017/QH14 thì khái niệm súng săn tại Luật số 42/2024/QH15 đã bỏ nội dung quy định về cách thức chế tạo và súng hơi để bảo đảm sự chính xác của khái niệm súng săn, đồng thời, súng nén hơi đã được quy định trong nhóm vũ khí quân dụng.
1.4. Vũ khí thô sơ, bao gồm:
(1) Kiếm, giáo, mác, thương, dao găm, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
(2) Dao có tính sát thương cao sử dụng với mục đích để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ, trừ trường hợp dao có tính sát thương cao sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật.
Như vậy, so với Luật số 14/2017/QH14 thì quy định về khái niệm vũ khí thô sơ tại Luật số 42/2024/QH15 có một số điểm mới đó là:
Một là, không quy định về cấu tạo, nguyên lý hoạt động và cách thức chế tạo vũ khí thô sơ chỉ liệt kê chủng loại và giao Bộ trưởng Bộ Công an ban hành danh mục vũ khí thô sơ nhằm tạo điều kiện thuận lợi và là căn cứ pháp lý cho các lực lượng chức năng trong việc xác định vũ khí thô sơ; Luật số 14/2017/QH14 trước đây không quy định danh mục vũ khí thô sơ nên việc xác định vũ khí thô sơ gặp rất nhiều khó khăn.
Hai là, bổ sung quy định dao có tính sát thương cao khi sử dụng với mục đích để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ là vũ khí thơ sơ. Đây là quy định mới, vì thực tiễn tội phạm sử dụng các loại dao gây án diễn biến rất phức tạp, trong đó nhiều vụ gây án với tính chất manh động, dã man, coi thường pháp luật gây bức xúc dư luận xã hội, hoang mang, lo lắng trong nhân dân; tuy nhiên, quá trình điều tra các vụ án này cơ quan điều tra chỉ xử lý hình sự được khi có đủ căn cứ kết luận đối tượng phạm tội về các tội danh khác như: Giết người, cướp tài sản, cố ý gây thương tích... không xử lý được đối tượng về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí.
Vì vậy, Luật số 42/2024/QH15 đã bổ sung quy định dao có tính sát thương cao khi sử dụng với mục đích để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ là vũ khí thô sơ.
1.5. Vũ khí thể thao, bao gồm:
(1) Súng trường hơi, súng trường bắn đạn nổ, súng ngắn hơi, súng ngắn bắn đạn nổ, súng thể thao bắn đạn sơn, súng bắn đĩa bay, đạn sử dụng cho các loại súng này thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành được trang bị, sử dụng để luyện tập, thi đấu thể thao.
(2) Kiếm, giáo, mác, thương, dao găm, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành dùng để luyện tập, thi đấu thể thao.
(3) Linh kiện cơ bản của súng trường hơi, súng trường bắn đạn nổ, súng ngắn hơi, súng ngắn bắn đạn nố, súng thể thao bắn đạn sơn, súng bắn đĩa bay, bao gồm: thân súng, nòng súng, bộ phận cò, bộ phận khóa nòng, kim hỏa.
Như vậy, so với Luật số 14/2017/QH14 thì quy định về khái niệm vũ khí thể thao tại Luật số 42/2024/QH15 không quy định về cấu tạo, nguyên lý hoạt động và cách thức chế tạo vũ khí thể thao chỉ liệt kê chủng loại và giao Bộ trưởng Bộ Công an ban hành danh mục vũ khí thể thao; đồng thời, bổ sung linh kiện cơ bản của các loại súng thể thao là vũ khí thế thao. Việc quy định trên, xuất phát từ tình hình thực tiễn tội phạm mua bán, vận chuyển linh kiện để lắp ráp vũ khí thể thao rất phức tạp, trong khi đó, Luật số 14/2017/QH14 không quy định linh kiện để lắp ráp vũ khí thể thao là vũ khí thể thao nên các đối tượng đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật để mua bán vũ khí bằng nhiều hình thức khác nhau như: Tháo rời vũ khí thành nhiều bộ phận để mua bán, vận chuyển. Vì vậy, để có căn cứ xử lý đối với các hành vi vi phạm theo Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm2017), Luật số 42/2024/QH15 đã bổ sung quy định linh kiện cơ bản của các loại súng thể thao là vũ khí thể thao.
So với Luật số 14/2017/QH14 thì vũ khí thô sơ tại Luật số 42/2024/QH15 không quy định về cách thức chế tạo vũ khí thể thao;
1.6. Luật số 42/2024/QH15 quy định khái niệm dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
Đây là quy định mới vì thực tiền tội phạm sử dụng các loại dao có tính sát thương cao gây án diễn biến rất phức tạp, trong đó nhiều vụ đối tượng sử dụng dao có tính sát thương cao gây án với tính chất rất manh động, dã man, coi thường pháp luật gây bức xúc dư luận xã hội, hoang mang, lo lăng trong nhân dân; tuy nhiên, quá trình điều tra các vụ án này cơ quan điều tra chỉ xử lý hình sự được khi có đủ căn cứ kết luận đối tượng phạm tội về các tội danh khác như: Giết người, cướp tài sản, cố ý gây thương tích... không xử lý được đối tượng về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí. Trong khi đó, dao có tính sát thương cao là phương tiện lưỡng dụng được sử dụng phổ biến trong lao động, sản xuất, sinh hoạt, nhưng khi đối tượng sử dụng vào mục đích trái pháp luật thì dao có tính sát thương cao trở thành một loại vũ khí rất nguy hiểm. Chính vì vậy, Luật số 42/2024/QH15 đã đưa ra khái niệm dao có tính sát thương cao làm cơ sở cho việc xác định dao có tính sát thương cao là vũ khí quân dụng khi sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật là vũ khí quân dụng; là vũ khí thô sơ khi sử dụng với mục đích để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ là vũ khí thô sơ. Dao có tính sát thương cao sử dụng vào mục đích lao động, sản xuất, sinh hoạt thì không phải là vũ khí. Đồng thời, để quản lý chặt chẽ các loại phương tiện lưỡng dụng này, Luật đã quy định một điều về áp dụng luật, trong đó, giao Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, sử dụng dao có tính sát thương cao.
1.7. Luật số 42/2024/QH15 quy định về khái niệm công cụ hỗ trợ cơ bản kế thừa khái niệm quy định tại Luật số 14/2017/QH14; bên cạnh đó, đã bổ sung ghế thẩm vấn đối tượng đặc biệt là công cụ hỗ trợ để phục vụ công tác nghiệp vụ của lực lượng Công an.
1.8. Luật số 42/2024/QH15 bổ sung quy định khái niệm về phế liệu, phế phẩm vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ là vật liệu được thải loại trong quá trình sản xuất; vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đã mất tính năng, tác dụng được tiếp nhận, thu gom.
liệu, phế phẩm vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ nên dẫn đến cách hiểu khác nhau, gây khó khăn trong quá trình xử lý vi phạm, tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, thanh lý, tiêu huy và sử dụng trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật, trưng bày, triển lãm, do đó, Luật số 42/2024/QH15 đã bố sung khái niệm phế liệu, phế phẩm vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
1.9. Luật số 42/2024/QH15 bồ sung quy định khái niệm về quản lý bao gồm các hoạt động nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, thử nghiệm, kinh doanh, trang bị, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, sửa chữa, bảo quản vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ.
Đây là quy định mới, hiện nay chưa có khái niệm về quản lý dẫn đến cách hiểu khác nhau, gây khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật, do đó, Luật số 42/2024/QH15 đã bổ sung khái niệm về quản lý.